FDA chấp thuận Cabozantinib điều trị cho bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào thận giai đoạn tiến triển

Thứ tư - 15/06/2016 04:56
Ngày 26/04/2016 Exelixis, Inc thông báo rằng Cơ quan quản lý Thực phẩm và Dược Hoa Kỳ (FDA) đã phê duyệt CABOMETYX (cabozantinib)
Cabozantinib
Cabozantinib

RCC là dạng phổ biến nhất của ung thư thận ở người lớn. Cabometyx được cấp phép theo “chỉ thị xét duyệt đường tắt và liệu pháp điều trị đột phá’’ của FDA (Fast Track and Breakthrough Therapy designations), là liệu pháp đầu tiên cho bệnh nhân RCC giai đoạn tiến triển được chứng minh trong một nghiên cứu phase III, với cải thiện mạnh mẽ và có ý nghĩa lâm sàng trên cả 3 tiêu chí đánh giá chính :

  1. sống còn toàn bộ
  2. thời gian sống bệnh không tiến triển
  3. tỉ lệ đáp ứng khách quan.
 

Tiến sĩ Michael M. Morrissey-CEO của Exelixis cho biết: 

“Giờ đây, bệnh nhân ung thư thận tiến triển đã điều trị trước đó có một một lựa chọn mới, là lựa chọn được chấp thuận đầu tiên và duy nhất chứng minh giúp bệnh nhân sống lâu hơn đồng thời làm chậm quá trình tiến triển của bệnh’’.

“Chúng tôi tự hào mang đến niềm hy vọng mới cho những bệnh nhân này, những người đang tìm kiếm những liệu pháp khác có thể kéo dài cuộc sống. Exelixis cam kết sẽ cung cấp sản phẩm Cabometyx cho bệnh nhân trong vài tuần tới”

Bác sĩ, giám đốc lâm sàng Toni Choueiri, thuộc trung tâm ung thư ( Lank Center), viện ung thư Dana-Farber cho biết:

“Các dữ liệu về hiệu quả điều trị của Cabometyx được chứng minh trong một thử nghiệm có tên làMETEOR, giờ đây được bổ sung bởi lợi ích sống còn toàn bộ có tính thuyết phục. Cabometyx khác biệt với các lựa chọn khác đã được phê duyệt, vì nó nhắm đến nhiều dòng thụ thể tyrosine kinases có liên quan tới tiến triển của bệnh RCC, bao gồm thụ thể MET (hepatocyte growth factor), AXL và 3 thụ thể VEGF’’.

“Cùng khoảng thời gian này, các bác sĩ đã quen thuộc với nhóm thuốc này và biết cách sử dụng liều lượng phù hợp nhằm cân bằng độ an toàn và hiệu quả điều trị (trước đó, năm 2012 FDA chấp thuận (cabozantinib 20 mg và 80 mg) cho điều trị ung thư tuyến giáp thể tủy đã di căn toàn thân). Việc chấp thuận Cabometyx là một tin tức tuyệt vời cho các bác sỹ những người đang tìm kiếm một lựa chọn mới cho những bệnh nhân ung thư thận tiến triển đã được điều trị trước đó”.

 

Nghiên cứu METEOR

 

Cabometyx được chấp thuận dựa trên kết quả của nghiên cứu phase III METEOR, với tiêu chí đánh giá chính là cải thiện thời gian sống bệnh không tiến triển. So sánh với Everolimus, là lựa chọn second-line tiêu chuẩn cho bệnh nhân RCC. Cabometyx làm giảm 42% tỉ lệ bệnh tiến triển hoặc chết, thời gian sống bệnh không tiến triển trung bình cho Cabozantinib là 7.4 tháng so với 3.8 tháng cho Everolimus (HR=0.58, 95% CI 0.45-0.74, P<0.0001). Cabometyx cũng cải thiện có ý nghĩa tỉ lệ đáp ứng khách quan (Objective Response Rate-ORR) so với everolimus. Các dữ liệu lâm sàng này được trình bày tại European Cancer Congress tháng 9/2015 và đcông bố trên tạp trí The New England Journal of Medicine.

 

Công bố vào tháng 2/2016, nghiên cứu METEOR chứng minh sự gia tăng đáng kể có ý nghĩa lâm sàng và thống kê về sống còn toàn bộ. So với everolimus, cabozantinib làm giảm 34% tỷ lệ tử vong. Sống còn toàn bộ trung bình là 21,4 tháng cho những bệnh nhân điều trị bằng cabozantinib so với 16,5 tháng đối với Everolimus (HR = 0,66, 95% CI 0,53-0,83, P = 0,0003).

Các tác dụng có hại phổ biến nhất (tỷ lệ ≥25%) trên những bệnh nhân điều trị bằng Cabozantinib bao gồm tiêu chảy, mệt mỏi, buồn nôn, nôn, chán ăn, hội chứng bàn tay chân, tăng huyết áp, tụt cân, táo bón. Tỷ lệ giảm liều xảy ra với 60% bệnh nhân dùng Cabozantinib và 24% bệnh nhân dùng Everolimus. Tỷ lệ ngưng điều trị do tác dụng có hại thấp (10% cho mỗi nhánh điều trị) và phù hợp với các báo cáo trước đó về Everolimus.

Nghiên cứu Phase III METEOR.

 

METEOR là một nghiên cứu nhãn mở, hướng sự kiện tiến hành trên 658 bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào thận gian đoạn tiến triển đã thất bại với ít nhất một liệu pháp ức chế thụ thể TKI (Receptor Tyrosine Kinase Inhibitor) của yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF)( VEGF receptor TKI).

Tiêu chí chính là thời gian sống bệnh không tiến triển, tiêu chí phụ bao gồm sống còn toàn bộ và tỷ lệ đáp ứng khách quan.

Nghiên cứu được tiến hành tại gần 200 địa điểm ở 26 quốc gia, thu thập thông tin từ nhiều bệnh nhân ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Australia.

Bệnh nhân được phân nhánh ngẫu nhiên theo tỉ lệ 1:1. Một nhánh sử dụng Cabometyx liều 60mg/ngày, nhánh còn lại sử dụng Everolimus liều 10mg/ngày và được phân tầng dựa trên số lần điều trị bằng liệu pháp VEGF receptor TKI và theo nguy cơ tiêu chuẩn MSKCC (Memorial Sloan–Kettering Cancer Center). Không cho phép điều trị bắt chéo (cross-over: điều trị nhiều liệu pháp trên một nhánh bệnh nhân) giữa hai nhánh nghiên cứu.

 

Ung thư biểu mô thận giai đoạn tiến triển.

 

Theo số liệu trích dẫn của hiệp hội ung thư Mỹ năm 2016 ung thư thận là một trong 10 loại thư phổ biến được chuẩn đoán ở cả hai giới tại Mỹ. Ung thư biểu mô thận tế bào sáng là loại ung thư phổ biến nhất trong ung thư thận ở người trưởng thành. Nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm, tỷ lệ sống còn toàn bộ 5 năm là cao, nhưng với những bệnh nhân tiến triển hoặc di căn giai đoạn muộn, tỷ lệ sống còn toàn bộ 5 năm chỉ còn 12%, và chưa có chỉ định điều trị cho giai đoạn này. Gần 17,000 bệnh nhân tại Mỹ và gần 37,000 bệnh nhân trên khắp thế giới có nhu cầu điều trị second-line hoặc điều trị giai đoạn muộn.

Phần lớn ung thư biểu mô thận tế bào sáng có nồng độ hoặc chức năng protein Von Hippel-Lindau ở mức thấp hơn mức bình thường, điều này dẫn đến nồng độ cao hơn của các protein MET, AXL và VEGF. Nồng độ cao hơn mức bình thường của các protein này có thể thúc đẩy quá trình tạo mạch máu mới tới khối u, khối u lớn lên, xâm lấn và di căn. MET và AXL cũng có thể tạo sự kháng lại thuốc ức chế thụ thể VEGF.

Cabometyx (cabozantinib):

 Đích tác dụng của Cabometyx bao gồm thụ thể MET, AXL và thụ thể VEGF-1,-2,-3. Trong các mẫu thử nghiệm tiền lâm sàng, cabozantinib được chứng minh ngăn cản sự hoạt hóa các thụ thể này, các thụ thể liên quan tới các chức năng và sinh lý bệnh của tế bào như tăng sinh mạch máu tới khối u, xâm lấn, di căn và kháng thuốc.

Dạng viên của Cabometyx có các hàm lượng 20mg, 40mg, 60mg. Liều khuyến cáo là 60mg đường uống, ngày một lần.

Ngày 28/01/2016, Cơ quan Quản lý Dược phẩm Châu Âu cấp chứng nhận “lưu hành chế phẩm’’ (Marketing Authorization Application-MAA) Cabozantinib của Exelixis cho điều trị bệnh nhân ung thư biểu mô tế bào thận tiến triển đã được điều trị bằng một liệu pháp trước đó.

MAA được xét theo chương trình phê duyệt tăng tốc, rút ngắn thời gian xem xét còn 150 ngày so với 210 ngày theo tiêu chuẩn. Ngày 29/2/2016, Exelixis và Ipsen cùng thông báo thỏa thuận giấy phép độc quyền về thương mại và phát triển xa hơn trên các chỉ định của Cabozantinib bên ngoài các nước Mỹ, Canada, Nhật Bản.

Tác giả bài viết: Ds. Khuất Duy Khoa

Nguồn tin: Namudinsider

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây